Viêm gan D nguyên nhân, dấu hiệu, triệu chứng và phương pháp điều trị

0
169
Viêm gan D cấu trúc của virus viêm gan D như thế nào
Viêm gan D cấu trúc của virus viêm gan D như thế nào

Viêm gan D là bệnh gan do virus HDV gây ra. HDV thường xảy ra theo kiểu đồng nhiễm, có nghĩa là bạn thường sẽ nhiễm viêm gan siêu vi B cùng lúc với viêm gan siêu vi D.

Tổng quan về viêm gan D

  • Viêm gan D (HDV) là một bệnh truyền nhiễm có điều kiện, nói một cách khác chỉ nguy hiểm cho những người đang hoặc sẽ bị bệnh viêm gan B mà thôi. Vì vậy những người được miễn nhiễm bệnh viêm gan B sẽ không sợ bị lây bệnh viêm gan D.
  • HDV thường lây qua đường máu và đường sinh lý. Tuy nhiên, bệnh chỉ lây qua những người đang bị viêm gan B với kháng nguyên HBsAg mà thôi. Trong những năm gần đây, chích thuốc phiện đã trở thành nguyên nhân hàng đầu gây ra bệnh HDV, nhất là khi những người nghiện thuốc này dùng chung kim với nhau.
  • Triệu chứng của HDV lệ thuộc vào tình trạng nhiễm vi khuẩn viêm gan B của lá gan. Nếu vi khuẩn viêm gan B đang tàn phá lá gan, siêu vi khuẩn viêm gan D cũng đánh ké. Nếu vi khuẩn viêm gan B bị tiêu diệt bởi hệ miễn dịch của bệnh nhân thì vi khuẩn HDV cũng sẽ chết theo.
  • Cho tới nay, chỉ có một thứ thuốc duy nhất được chấp thuận bởi FDA trong việc chữa trị bệnh HDV: Ðó là Interferon alpha thuốc được dùng cho cả hai trường hợp: viêm gan D mạn tính và cấp tính HDV chỉ lây qua những ai chưa có kháng thể chống lại vi khuẩn viêm gan B. Vì thế, chủng ngừa viêm gan B là phương pháp hữu hiệu nhất để phòng bệnh HDV. Tuy nhiên hiện nay chưa có thuốc chủng ngừa bệnh viêm gan D cho những người đang bị bệnh viêm gan B.
Viêm gan D cấu trúc của virus viêm gan D như thế nào
Viêm gan D cấu trúc của virus viêm gan D như thế nào

Viêm gan D là gì?

  • HDV là một bệnh nhiễm trùng rất nghiêm trọng ở gan do virus HDV gây ra khiến gan bị viêm. Bệnh lý này sẽ làm suy giảm chức năng gan, đồng thời gây ra các vấn đề về gan lâu dài mà nguy hiểm nhất là ung thư.
  • Bệnh lý này có thể là cấp tính hay mãn tính. Tình trạng bệnh cấp tính thường xảy ra đột ngột nhưng lại gây ra các triệu chứng nghiêm trọng hơn. Tuy nhiên, những triệu chứng này có thể tự biến mất.

Cấu trúc virus viêm gan D

  • Hạt virus trưởng thành là một tiểu thể hình cầu đường kính khoảng 35nm, genome của virus chứa ARN một sợi, genome của HDV còn chứa protein cấu trúc gọi là kháng nguyên (HDAg) của HDV. Vỏ ngoài cùng của hạt virus là thành phần vỏ ngoài (HBsAg) của HBV.
  • HDV có thể nhiễm trùng tế bào gan nguyên phát của vượn. Khi vào bên trong tế bào HDV có thể sao chép mà không cần có virus HBV. ARN và kháng nguyên HDAg được tìm thấy trong nhân của tế bào. Virus tổ hợp thành hạt virus khi các thành phần ARN, HDAg tương tác với HBsAg của HBV.

Viêm gan D khác với ở viêm gan A,B,C như thế nào?

1.Viêm gan virus D

  • Bệnh viêm gan virus D do virus HDV (HDV) gây ra. HDV lây truyền từ người sang người qua tiếp xúc với máu, chế phẩm từ máu, qua quan hệ tình dục. Tuy nhiên, HDV luôn đồng nhiễm với HBV hoặc bội nhiễm trên bệnh nhân có HBsAg (+).
  • Biểu hiện của bệnh: vì HDV đồng nhiễm hoặc bội nhiễm trên bệnh nhân có HBsAg (+) nên bệnh thường đột ngột với các triệu chứng như bệnh viêm gan virus B, có thể tự khỏi nhưng có số ít trường hợp bệnh diễn biến rất nặng (nếu đồng nhiễm viêm gan virus B) hoặc trở thành viêm gan mạn tính.

2.Viêm gan virus A

  • Bệnh viêm gan virus A do virus viêm gan A (HAV) gây ra. HAV lây truyền từ người sang người qua đường phân miệng, rất hiếm qua đường máu. Viêm gan virus A có thể xảy ra lẻ tẻ hoặc bùng phát thành dịch. Bệnh có thể chữa khỏi hoàn toàn, sau khi khỏi người bệnh có miễn dịch đặc hiệu lâu bền.
  • Biểu hiện khi mắc bệnh: bệnh thường xảy ra đột ngột, sốt nhẹ, rất mệt, chán ăn, buồn nôn, đầy bụng, tiểu ít màu rất vàng. Sau 7 – 10 ngày xuất hiện vàng da, vàng mắt, khi bắt đầu vàng da thì hết sốt. Sau 4 – 6 tuần bệnh lui dần, xuất hiện tiểu nhiều, vàng da, vàng mắt hết, nhưng phải mất 1 – 2 tháng người bệnh mới hồi phục hoàn toàn.

3.Viêm gan virus B

  • Bệnh viêm gan virus B do virus viêm gan B (HBV) gây ra. HBV lây truyền từ người sang người qua tiếp xúc với máu và chế phẩm từ máu, dịch tiết của cơ thể, qua quan hệ tình dục và có thể lây từ mẹ sang con. 85 – 90% người trưởng thành mắc bệnh có diễn biến cấp tính, 10% diễn biến thành thể mạn tính (40% bệnh nhân thể mạn tính sau này có nguy cơ xơ gan, ung thư gan nguyên phát). Riêng với trẻ nhỏ bị lây truyền từ mẹ, 90% sẽ ở thể mãn tính.
  • Biểu hiện khi mắc bệnh: bệnh nhân biểu hiện sốt nhẹ, chán ăn, đầy bụng, rối loạn tiêu hóa. 7 – 10 ngày sau hết sốt và xuất hiện vàng da. Bệnh diễn biến khoảng 4 – 6 tuần. Tuy nhiên một số trường hợp mắc bệnh ở thể tối cấp, hôn mê và tử vong > 95% số trường hợp.

4.Viêm gan virus C

  • Bệnh viêm gan virus C do virus viêm gan C (HCV) gây ra. HCV lây truyền từ người sang người qua tiếp xúc với máu, chế phẩm từ máu, qua quan hệ tình dục, và từ mẹ truyền sang con. 40 – 60% bệnh nhân bị viêm gan C sẽ chuyển thành thể mạn tính, có nguy cơ phát triển thành xơ gan và ung thư gan nguyên phát trong tương lai.
  • Biểu hiện khi mắc bệnh: thường bệnh xảy ra thầm lặng, chán ăn, đầy bụng, buồn nôn. Tuy nhiên chỉ khoảng 25% số trường hợp mắc bệnh có biểu hiện lâm sàng.

8 dấu hiệu, triệu chứng viêm gan D

  1. Ăn mất ngon
  2. Buồn nôn và ói mửa
  3. Mệt mỏi
  4. Đau ở gan (phía trên, bên phải của bụng)
  5. Đau cơ và đau khớp
  6. Vàng da vàng tròng trắng mắt
  7. Phân nhạt màu
  8. Nước tiểu sậm màu.

6 Nguyên nhân gây ra viêm gan D

  1. HDV được truyền qua đường tiếp xúc với máu hoặc chất dịch cơ thể bị nhiễm bệnh, ví dụ như máu, nước tiểu, dịch âm đạo, tinh dịch.
  2. Tiêm chích ma túy sử dụng chung bơm kim tiêm.
  3. Được truyền máu
  4. Trong khi sinh
  5. Quan hệ tình dục không an toàn
  6. Sử dụng thiết bị y tế hay thuốc không bão hòa

Ai có nguy cơ mắc bệnh viêm gan D cao?

  • Ðây là một bệnh truyền nhiễm có điều kiện. Bệnh chỉ nguy hiểm cho những bệnh nhân đang hoặc sẽ bị bệnh viêm gan B mà thôi.
  • Nói một cách khác, bệnh chỉ lây qua những ai chưa có kháng thể chống lại vi khuẩn viêm gan B. Người được miễn nhiễm bệnh viêm gan B, vì thế, sẽ không phải lo lắng về bệnh HDV nữa.

Xét nghiệm chuẩn đoán viêm gan D như thế nào?

Các xét nghiệm huyết thanh sau đây có thể sử dụng để chẩn đoán đồng nhiễm HDV và HBV:

  • Kết quả dương tính với kháng nguyên HDVAg là khoảng 20%
  • Kết quả dương tính với HDV-RNA là khoảng 90% các trường hợp nhiễm HDV: phản ứng chuỗi polymerase sao chép ngược RT-PCR (reverse transcriptase polymerase chain reaction) hiện là xét nghiệm nhạy nhất để phát hiện HDV trong máu.
  • Kháng thể Anti-HDV immunoglobulin M (IgM) thường dương tính ở giai đoạn cấp và sau đó dương tính với anti-HDV immunoglobulin G (IgG) ở giai đoạn nhiễm HDV mạn; sự phát hiện các kháng thể chống các kháng nguyên A của HDV hầu như chỉ liên quan đến nhiễm HDV mạn.
  • Kháng thể lõi của HBV (Anti-HBc IgM) thường dương tính, trừ trường hợp bội nhiễm, trong đó Anti-HBc IgM vắng mặt.
  • Các men gan alanine aminotransferase (ALT) và mức aspartate aminotransferase (AST) có thể lớn hơn 500 IU/ L.
  • Đối với các dấu ấn chức năng tổng hợp của gan, một tỷ lệ chuẩn hóa quốc tế INR (international normalized rate) > 1,5 hoặc một thời gian prothrombin PT (prothrobin time) > 17 giây có thể là bằng chứng đầu tiên của suy gan tối cấp.
  • Kháng nguyên bề mặt của virus viêm gan B (HBsAg) cần thiết cho sự nhân lên của HDV nhưng cũng có thể bị kìm hãm đến mức độ không thể phát hiện được khi sự nhân bản HDV hoạt động.
Xét nghiệm viêm gan D như thế nào
Xét nghiệm viêm gan D như thế nào

Mức độ nguy hiểm của bệnh nhân viêm gan D như thế nào?

  • So với viêm gan B, viêm gan C thuần túy, bệnh nhân viêm gan siêu vi D thường có nguy cơ xơ gan, ung thư gan sớm hơn. Vì trong trường hợp virus viêm gan B đã và đang hủy hoại các tế bào gan thì cộng hưởng với virus viêm gan D sẽ làm cho các tế bào gan bị hoại tử nhiều hơn. Sự tấn công đồng thời, cùng lúc của cả hai loại virus khiến tế bào Kupffer (một loại đại thực bào nằm ở xoang gan, chuyên xử lý các loại virus, vi khuẩn, hồng cầu già chết… tạo phản ứng miễn dịch) hoạt động quá mức, từ đó phóng thích ra các chất gây viêm TNF-α, TGF-β, Interleukin… làm hoại tử các tế bào gan, thúc đẩy biến chứng xơ gan, ung thư gan đến nhanh hơn.
  • Tính nguy hiểm của bệnh HDV còn thể hiện ở chỗ đối với những người lành mang virus HBV, khi bị nhiễm HDV nó lại kích hoạt viêm gan B bùng phát, cùng khởi đầu cho sự hủy hoại tế bào gan. Tuy vậy, virus HDV cũng có thể bị chết nếu virus viêm gan B không hoạt động hoặc bị sức đề kháng của cơ thể đẩy lùi.

Phương pháp điều trị viêm gan D

  • Hiện vẫn chưa có phương pháp chữa trị đặc hiệu cho bệnh HDV. Khác với các dạng viêm gan khác, thuốc kháng virus dường như không hiệu quả với điều trị HDV.
  • Bác sĩ sẽ thường kê toa 1 loại thuốc gọi là pegylated interferon-alpha trong đối đa là 12 tháng. Đây là một loại protein giúp ngăn chặn virus lây lan, đồng thời ức chế và làm giảm triệu chứng.
  • Tuy nhiên, ngay cả sau khi điều trị thì người bệnh vẫn có thể xét nghiệm dương tính với virus. Điều này cho thấy việc áp dụng các biện pháp ngăn ngừa lây nhiễm là rất quan trọng. Người bệnh cũng luôn cần phải chủ động theo dõi các triệu chứng tái phát.
  • Những người bị HDV cũng có thể cần điều trị đồng thời viêm gan B. Bao gồm sử dụng thuốc kháng virus hay thuốc điều chỉnh miễn dịch để giúp hệ thống miễn dịch chống lại virus.
  • Trong trường hợp có biến chứng phát sinh thì cần điều trị để hạn chế tổn thương gan. Trong trường hợp gan bị tổn thương nghiêm trọng hay suy gan thì ghép gan là biện pháp sẽ được cân nhắc thực hiện.

6 cách phòng ngừa viêm gan D

  • Tiêm phòng: Tất cả trẻ em nên được tiêm vắc – xin viêm gan B. Người lớn có nguy cơ cao đối với nhiễm trùng cũng nên được chủng ngừa.
  • Quan hệ tình dục an toàn bằng cách luôn sử dụng bao cao su.
  • Đeo găng tay nếu bạn bắt buộc phả chạm vào vết thương hở của người khác.
  • Tuyệt đối không sử dụng chung kim tiêm khi bạn phải tiêm thuốc.
  • Bết trì vết loét, vết cắt hay vết trầy xước nào trên da cũng cần phải được phủ bằng băng chống thấm.
  • Trường hợp được yêu cầu xử lý máu hay dịch cơ thể thì việc sử dụng các biện pháp ngăn ngừa tiêu chuẩn sẽ giúp làm giảm nguy cơ lây lan virus HDV.

Câu hỏi thường gặp liên quan đến viêm gan D

1.Viêm gan D (HDV) là gì?

HDV là một loại bệnh truyền nhiễm do virus HDV gây ra. Đây là một loại virus có cấu trúc khá đơn giản, không đầy đủ nên được gọi là siêu vi không trọn vẹn. Cũng chính vì có cấu trúc không trọn vẹn nên khi sinh trưởng đơn độc, virus HDV không có khả năng gây bệnh mà đòi hỏi phải có chức năng trợ giúp của virus viêm gan B (HBV) để nhân rộng và phát triển. Điều đó có nghĩa là, khi có sự hiện diện của HBV trong máu thì HDV mới trở thành yếu tố gây bệnh

2.Viêm gan D có chữa khỏi không?

HDV là bệnh lý nghiêm trọng về gan đến nay vẫn chưa có cách điều trị dứt điểm. Chính vì thế, bạn cần hết sức cẩn trọng để sớm phát hiện cũng như nghiêm túc trong điều trị để giả nguy cơ gặp phải các biến chứng nguy hiểm, đôi khi còn đe dọa cả tính mạng.

3.Điều trị viêm gan D  trong thời gian bao lâu?

Phụ thuộc vào từng thể bệnh mà có sẽ có hướng điều trị khác nhau nhưng nguyên tắc chung để điều trị bệnh viêm gan siêu vi là:

  • Bệnh nhân có chế độ nghỉ ngơi hợp lý: Trong giai đoạn thai kỳ, bạn nên nằm nghỉ ngơi tránh hoạt động mạnh.
  • Chế độ ăn uống nên giảm (dầu, mỡ,…) nên ăn các thực phẩm giảm đạm, hoa quả tươi, vitamin.
  • Hạn chế các chất kích thích, các loại thuốc, hóa chất gây độc cho gan.
  • Điều trị khi bệnh nhân có triệu chứng.

4.Có thuốc đặc trị viêm gan D hay chưa?

  • Hiện chưa có vaccin đặc hiệu cho HDV. Tuy nhiên, vaccin chủng ngừa viêm gan B cũng có tác dụng bảo vệ chống lại virus viêm gan D bởi vì HDV phải phụ thuộc vào sự có mặt của virus viêm gan B để sao chép và nhân lên.
  • Nhiễm HDV có thể điều trị bằng Pegylated interferon alpha với hiệu quả < 20%.

Nguồn uy tín: https://canets.com/


Cập nhật mới nhất ngày

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here